Xuân sang, không gì tuyệt vời hơn được thong thả ngồi xuống bên nhau, thưởng thức chén trà Hoàng Mai  xứ Huế, cảm nhận tình yêu của người làm trà gửi gắm qua hương trà thanh khiết. Với chị Trần Thị Thanh Nhị và anh Hiếu Trương - hai nhà sáng lập Hiên Trà Nhị Độ Mai nói riêng và với những người con cố đô nói chung, chén trà ngon không nằm ở kỹ thuật mà ở khí chất sống đã được hun đúc qua thời gian. Người Huế quen sống chậm, quen quan sát, quen giữ gìn những giá trị vô hình. Trà cũng vậy, hương không mở ngay, vị không dâng liền, đòi hỏi sự kiên nhẫn để lắng và để cảm. Chính sự trầm tĩnh ấy giúp họ nhận ra những khác biệt mong manh trong một chén trà, trân trọng tinh thần của sự vừa đủ và mang tinh thần tĩnh tại vốn có để làm trà và thưởng trà.

Empty

Tôi đến Hiên Trà Nhị Độ Mai vào một ngày mưa lất phất, lối đi nhỏ trước cổng còn đọng vài vũng nước. Huế khi ấy vừa trải qua trận lụt lịch sử, mùa mưa cũng gần khép lại. Bước vào hiên, giữa làn khói mỏng bay lên, tôi chỉ thấy thấp thoáng bóng một người đàn ông đang chậm rãi nhóm lò sưởi bằng những thanh củi khô. Thấy chúng tôi, anh mỉm cười chào, mời chúng tôi vào quán, nói rằng ở Huế thì phải có mưa và mùa này nhất định phải có cái lạnh se se; nếu khác đi thì chẳng còn là Huế nữa, mà người Huế cũng sẽ nhớ lắm. Sau, chúng tôi được biết, đó là anh Hiếu - chủ nhà. Tôi và cô bạn nhìn nhau bật cười, ấn tượng bởi cách chào đón rất duyên dáng của người xứ này. Chúng tôi chọn một chiếc bàn cạnh cửa sổ, chờ anh chủ nhóm xong bếp sưởi rồi mang thực đơn trà đến giới thiệu.

Empty

Khi biết quán có trà Hoàng Mai, tôi tò mò muốn thử. Mới đầu mùa xuân, tôi vừa đọc cuốn Trước nhà có cây hoàng mai của tác giả Minh Tự và biết rằng: “Với người Huế, hoàng mai là linh hoa. Nhà nào cũng có một cây mai vàng trước sân. Cung điện của vua trước sân trồng mai vàng. Nhà dân bần hàn cũng mai vàng trước ngõ. Từ đường của dòng họ thì chắc chắn không thể thiếu cây hoàng mai. Vườn chùa Huế mà thiếu mai vàng như thể chùa vắng bóng Phật. Nhà thờ Chúa với kiến trúc rặt Âu châu cũng không thiếu cây mai vàng”.

Tác giả viết rằng: “Tôi mường tượng một ngày đầu xuân, cây mai vàng trước sân nhà tôi trổ hoa. Khi đó tôi sẽ dành hẳn một ngày không làm việc gì cả chỉ để ngồi ngắm hoàng mai. Trên những cành khẳng khiu tuyết sương lạnh lẽo hôm nào, giờ đã bung ra các nụ hoa vàng. Và chỉ sau vài giờ dưới cái nắng xuân ấm áp, các nụ vàng ấy đã nở thành một tán vàng rợp trời. Cái tán hoa vàng vời vợi ấy nhòe dần trong mắt tôi, chập chờn hư ảo, như không phải là hoa nữa. Là người thì phải. Một dáng người lặng im với nụ cười sáng rực cả đất trời”. Thầm nghĩ, nếu đứng trước khung cảnh ấy, tôi cũng sẽ dành thái độ tôn sùng vẻ đẹp của cây hoàng mai như thế. Không ngờ mùa đông năm nay, tôi lại có dịp thưởng thức trà Hoàng Mai trong một khung cảnh thơ mộng ở Hiên Trà Nhị Độ Mai. Nhân Tết đang đến gần, ý nghĩ viết một bài về trà Hoàng Mai làm tôi thấy vui trong bụng.

Empty

Vừa rót trà, anh Hiếu vừa chậm rãi giới thiệu cho chúng tôi về loại trà Hoàng Mai đặc biệt này và cách thưởng thức sao cho đúng. Trà Hoàng Mai là ký ức từ thuở ấu thơ của vợ anh Hiếu - chị Trần Thị Thanh Nhị, một nghệ nhân trà. Trong gia đình chị, từ đời ông sơ - ngài Phạm Xứng (đỗ Tiến sĩ giữ chức Thượng thư dưới triều vua Tự Đức), trải qua nhiều đời, trà Hoàng Mai luôn hiện diện trong những sự kiện quan trọng như cúng giao thừa, mừng nhà mới, mừng thi cử đỗ đạt hay tiếp đãi khách quý. Chị và các anh chị em lớn lên trong hương trà của ông ngoại, của ba - những kỷ niệm đẹp như miền cổ tích mà họ muốn lưu giữ.

Chị nhớ những sớm tháng Giêng đứng dưới tán mai già trong vườn ngoại. Mùi hoa phảng phất trong gió sớm, quện vào áo, vào tay khi ấy theo chị suốt những buổi ngồi dưới mái hiên nhặt hoa làm trà. Ngoại chị dạy rằng làm trà là việc của kiên nhẫn, không được vội, không được tham. Ngoại nhắc câu của Cao Bá Quát: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” nhắc người ta cúi đầu trước hoa mai, cúi trước cái tinh khiết và cái đẹp. Cây mai đâu chỉ cho hoa mà còn dạy người ta sống chậm, giữ nếp, cúi mình trước điều tinh khiết. Người làm trà phải học cách hạ mình, nhặt từng cánh hoa khẽ, giữ từng hơi hương để trà lưu vị lâu. Cúi mình trước hoa mai cũng là học cách sống trầm, khiêm, trân trọng những điều bền lâu.

Empty

Để làm được loại trà này lại vô cùng khó. Hương hoa mai mảnh và dịu, rất khó “ăn trà”, nhất là khi kết hợp với nền trà Shan Tuyết đại cổ thụ có tính gỗ cao. Để trà bền hương, bền vị và có thể bảo quản lâu mà không mất hương, hai vợ chồng anh chị đã mất rất nhiều năm để điều chỉnh và hoàn thiện.

Một mẻ trà Hoàng Mai chỉ thật sự tròn vị khi trong hương hoa mai thuần khiết, người thưởng trà cảm nhận được phong vị mùa xuân của đất cố đô: nước trà ánh vàng trong trẻo, hương mai lan nhẹ mà sâu, trong đó ẩn chìm và hòa quyện nhiều nốt hương hoa cỏ mùa xuân cùng dư vị của những trái cây đang độ chín. Ngụm trà chát khẽ nơi đầu môi, hậu ngọt êm và dài, tầng hương trầm nhã như mật ong rừng đầu xuân, êm nồng như rượu nếp ủ lâu năm, lưu lại bền bỉ như lời chúc đầu năm an khang, thịnh vượng. Anh Hiếu chia sẻ thêm, một mẻ trà hoàn hảo không phải là mẻ giống nhau 100% qua từng năm, mà là mẻ phản ánh trung thực thời tiết, mùa hoa và trạng thái con người ở đúng thời điểm nó được sinh ra.

Empty

Quy trình làm trà Hoàng Mai mà họ cùng theo đuổi là sự kết hợp của kỹ thuật truyền thống và cảm nhận tinh tế. Nhị kể rằng trà được làm từ nguyên liệu thượng phẩm: một tôm xen lẫn một tôm một lá, thu hái vào vụ xuân từ những cây Shan Tuyết đại cổ thụ 500 - 600 tuổi trên núi Tây Côn Lĩnh.

Hoa mai xứ Huế được chọn lúc hé nụ vào sáng sớm, khi hương phát mạnh nhất. Trà được ủ hương nhiều lần, mỗi lần cần khoảng 300g hoa cho 1 kg trà. Lớp trà – lớp hoa xen kẽ, rồi ủ. Khi nhiệt độ khối trà tăng, họ phải khéo léo đảo khối trà thành những rãnh trà (gọi là “thông hoa”) để thoát bớt hơi ẩm, tránh biến đổi hóa học làm trà đỏ nước hay có mùi thiu. Nhờ thông hoa, hoa nở toàn bộ và trà hấp thụ được hương nhiều nhất. Khi trà đã ngậm hương thì nhóm than hoa, bắc một nồi nước to, mở vung, trên đó đặt một chiếc mâm đồng, để hơi nước sôi từ từ làm nóng mâm đồng, cho trà lên mâm và sấy cho khô dần. 

Hơi nước làm nóng mâm, giúp hơi ẩm rút dần, trà khô dần, phần hương còn ở lại ôm chặt từng cánh trà như phong vị xưa. Quy trình ủ - sấy lặp lại 5 - 6 lần để trà đạt độ thơm ngọt, tinh khiết như đứng trong hiên nhà có hoa nở rộ. Quá trình này gần như không có sự can thiệp sâu của máy móc, chủ yếu dựa vào tay nghề, mùi hương và kinh nghiệm truyền đời. “Khoảnh khắc thu hái hoa và pha những ấm trà đầu tiên của mẻ mới luôn đặc biệt. Ở đó có sự hồi hộp, chờ đợi và một sự lặng im rất Huế”, anh Hiếu chia sẻ.

Empty
Empty

Trong lúc chúng tôi thưởng trà, anh Hiếu kể chuyện tình yêu của hai vợ chồng anh. Đó là một câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng phóng viên ảnh báo quốc tế và nghệ nhân trà. Lần đầu anh Hiếu gặp chị Nhị là trong một buổi làm việc, khi anh đến với tư cách phóng viên để ghi nhận câu chuyện của một nghệ nhân làm trà sen ngự. Không gian hôm ấy đông người, nhiều tiếng nói, nhiều chuyển động. Thế nhưng giữa tất cả những ồn ã đó, điều khiến anh chú ý chính là nghệ nhân đang làm trà bằng phong thái ung dung, chậm rãi, trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Có lẽ, chính điều đó đã tạo nên sự kết nối rất tự nhiên giữa hai người bởi ở anh Hiếu cũng có nét điềm nhiên, tự tại và sâu lắng rất Huế, dù anh vốn là người hoạt ngôn.

Empty

Theo anh Hiếu, nhiếp ảnh và trà gặp nhau ở một điểm chung là nghệ thuật của sự tập trung và khoảnh khắc. Trong nhiếp ảnh, nếu vội, ánh sáng đẹp nhất sẽ bị bỏ lỡ; trong trà, nếu nôn nóng, hương vị sẽ bị phá vỡ. Cả hai buộc anh phải chờ đợi và tôn trọng tự nhiên thay vì cố kiểm soát nó. Khi bắt đầu làm trà cùng Nhị, những mẻ trà dù đã cố gắng rất nhiều vẫn phải bỏ đi khiến anh hiểu rằng sự kiên nhẫn của mình vẫn còn rất nông. Nhị thường nhắc anh rằng làm trà cần một trạng thái tĩnh tại; khi tâm người làm chưa đủ lắng, trà sẽ phản ánh điều đó rất rõ. Dù là chụp ảnh hay làm trà, người làm phải hiện diện trọn vẹn, bởi khi tâm trí còn phân tán, kết quả sẽ không bao giờ trọn vẹn. Chính quá trình làm trà đã dạy họ biết lắng nghe thiên nhiên, thời tiết, mùa hoa và cả những thay đổi rất nhỏ trong chính mình.

Cùng nhau, họ không ngừng hoàn thiện trà Hoàng Mai để góp phần gìn giữ tinh hoa ẩm thực Huế và lan tỏa văn hóa trà với bạn bè trong và ngoài nước. Ngoại chị từng bảo Hoàng Mai là Bách hoa khôi - loài hoa đứng đầu trăm hoa, nở sớm để báo tin Xuân đã về. Với cả hai, Tết là lúc nhìn lại một năm đã qua, biết ơn những điều còn giữ được, và lặng lẽ sửa mình cho năm mới; là dịp nhắc nhở gia đình giữ chậm nhịp sống, trân trọng từng khoảnh khắc và gìn giữ gia phong. Mùa xuân năm nay, gia đình nhỏ đã có thêm hai thành viên là hai bé trai sinh đôi. Chị Nhị tưởng tượng về khung cảnh đón Tết cùng nhau: sớm mồng Một, dưới hiên nhà cũ, tiếng cười khẽ của các bé hòa cùng hơi nước bốc lên từ ấm trà Hoàng Mai. Hương trà mở ra chậm rãi, vị trà đọng sâu nơi cổ họng. Tết trong nếp xưa không chỉ nằm ở mâm cỗ hay hoa mai rực rỡ, mà ở khoảnh khắc thấy mùa xuân sinh sôi trong từng hơi thở, từng tiếng cười. Hai em bé, trong cảm nhận của chị, như hương trà tinh khiết. Nhờ đó, niềm an hòa, đủ đầy và trọn vẹn theo tiết xuân luôn ở lại trong nếp nhà, bên một ấm trà cùng vài câu chuyện cũ và tiếng trẻ thơ.

Empty

Khi ngồi bên lò sưởi ấm của Hiên Trà Nhị Độ Mai, tôi cùng cô bạn của mình đã uống với nhau đâu đó khoảng tám tuần trà. Hương vị trà Hoàng Mai về sau càng đọng lại nhiều dư âm trong vòm họng, thay vì phai dần đi. Tôi vui vẻ mua một hộp trà Hoàng Mai mang về nhà. Không khí miền Nam dịp giáp Tết thưởng thức trà Hoàng Mai cũng dễ chịu vô cùng. Tuy nhiên, phải thú nhận rằng, về với nhịp sống của một đô thị năng động nhất đất nước, để tìm được tri kỷ có thể cùng nhau chậm rãi nhâm nhi tám đến mười hai tuần trà quả thật là điều chẳng dễ dàng gì.

Tôi đem chuyện này ra làm chủ đề bàn luận, anh Hiếu bảo để tìm được một người tri kỷ trong cuộc sống bận rộn này là điều rất khó. Ai cũng bận, ai cũng cuốn theo những lo toan riêng. Nhưng chính vì khó, nên khi gặp được nhau, khoảnh khắc ấy đối với anh lại càng đáng trân quý. Chị Nhị cũng đồng tình. Với chị, tri kỷ giống như trà, cần thời gian để nở, cần kiên nhẫn để cảm nhận, và cần một tâm hồn thảnh thơi để đồng điệu. Khi gặp được, chén trà thêm tròn vị, hương thanh nhã như được nhân đôi; khi chưa gặp, trà vẫn thơm, nhưng lòng người vắng đi một phần yên ả. Dưới hiên trà của họ, những kỷ niệm đẹp không đến từ những câu chuyện dài, mà từ sự hiện diện lặng lẽ của những vị khách. Có những người đến, như chúng tôi đây, ngồi rất lâu mà không nói nhiều. Khi ra về, họ chỉ nói một câu: “Lâu rồi tôi mới được ngồi yên như vậy”. Đó là lời cảm ơn đẹp nhất, như một sự đồng tình tinh tế rằng không gian tĩnh tại mà họ gìn giữ đã chạm đến ai đó theo cách rất nhẹ nhàng.

Khi nghĩ về nhau, cả hai đều hiểu rằng nếu không gặp nhau, cuộc sống của mỗi người có lẽ vẫn ổn. Nhưng như Nhị nói, họ sẽ thiếu đi một điều gì đó rất quan trọng. Tin rằng, sự lãng mạn mà họ đang có không đến từ một quán trà, mà đến từ việc hai người cùng chọn một nhịp sống chậm trong bối cảnh… không dễ gì để tìm được người cùng chọn nhịp sống ấy. Trà Hoàng Mai, với hương xuân thanh nhã, đã trở thành biểu tượng cho tất cả những gì họ trân trọng: là sự tĩnh lặng, là tình yêu, là nếp nhà, là sự chắt chiu vẻ đẹp tinh khiết của cuộc sống được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Dư hương lưu lâu của chén trà như một lời chúc đầu năm an khang, thịnh vượng, trù phú và ấm no.

Empty
Empty