Người Hải Phòng quen gọi Phúc Lâm Tự bằng cái tên giản dị: chùa Hàng. Nhưng phía sau tên gọi mộc mạc ấy là cả một bề dày lịch sử, văn hóa và tinh thần gắn bó sâu sắc với vùng đất này qua bao thế kỷ.
Trong Phật giáo, chùa thường được gọi là Tổ đình Phúc Lâm vì đây là một ngôi cổ tự có lịch sử hơn 1.000 năm, từng là nơi hoằng pháp, đào tạo tăng tài và gắn với thiền phái Trúc Lâm từ thời Trần.
Xuân về qua tiếng chuông Phúc Lâm
Mỗi độ Tết đến, chùa Dư Hàng trở thành điểm hẹn tâm linh quen thuộc của người dân thành phố Cảng. Từ những ngày cuối năm, sân chùa đã rộn ràng bước chân người đi lễ tất niên, dâng hương cầu an. Những cành đào, chậu quất, sắc hoa xuân điểm tô cho mái ngói rêu phong thêm phần ấm áp.
Hoa đào trắng trong sân chùa nở rộ
Sáng đầu năm, dòng người chậm rãi bước qua cổng tam quan, tay nâng nén hương thơm. Khói hương bảng lảng trong không gian se lạnh đầu năm, hòa cùng tiếng chuông ngân vang từ gác cao ba tầng. Âm thanh ấy trầm sâu, lan tỏa như lời nhắc nhở con người giữ tâm an giữa bao bộn bề.
Trong chính điện, nhiều gia đình thành kính lễ Phật, cầu mong một năm “mưa thuận gió hòa”, gia đạo bình an, công việc hanh thông. Trước tượng Bồ tát Quán Thế Âm lộ thiên nơi sân chùa, những lời nguyện ước được gửi gắm trong niềm tin hiền hòa. Bên vườn tượng, dưới gốc bồ đề xanh thẳm, hình ảnh Đức Phật ngồi thiền định giữa hồ nước tĩnh lặng càng làm cho không khí xuân thêm phần thanh tịnh.
Vãn cảnh chùa Hàng đầu năm là tín ngưỡng của nhiều người dân Hải Phòng đã tồn tại hàng chục năm
Dấu tích nghìn năm từ thời Tiền Lê
Theo bia ký còn lưu giữ tại chùa, Phúc Lâm tự có nguồn gốc từ thời Tiền Lê (980-1009), vào cuối triều vua Lê Đại Hành. Tương truyền, khi ấy đã có một vị sư tổ đến đây thuyết pháp, khai sáng giáo lý nhà Phật, đặt nền móng cho một trung tâm Phật giáo sớm của vùng duyên hải Đông Bắc.
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni - vị sáng lập Phật giáo ngồi thiền trên đài sen dưới gốc cây bồ đề
Đến thời Trần (1225-1400), chùa Dư Hàng có mối liên hệ mật thiết với thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập tại Yên Tử. Từ đó, chùa truyền lệ kỷ niệm ngày sinh của vị tổ đệ nhất “Đền ngự giác hoàng tinh tuệ thiền sư” vào mùng 2 tháng 11 âm lịch; ngày mùng 3 tháng 11 là lễ tưởng niệm vị tổ thứ ba của Trúc Lâm là Huyền Quang (Lý Đạo Tái). Những nghi lễ ấy không chỉ là truyền thống tôn giáo, mà còn là sợi dây nối kết chùa với dòng chảy tư tưởng thiền học Việt Nam.
Tượng Phật A Di Đà được thờ tại chính điện chùa Dư Hàng
Bước sang thế kỷ XVII, dưới thời vua Lê Gia Tông (1672), sư cụ Nguyễn Đình Sách, tự Chân Huyền, đã đứng ra tậu ruộng đất, mở rộng quy mô chùa với đầy đủ gác chuông, nhà tổ, nhà tăng. Từ đó về sau, dù trải qua bao biến thiên lịch sử, chùa Dư Hàng vẫn được các thế hệ hòa thượng, tăng ni và phật tử địa phương chung tay tu bổ, gìn giữ.
Vườn tượng lộ thiên là một trong những công trình được các tăng ni, phật tử đóng góp để mở rộng
Không chỉ là chốn tu hành, chùa còn in dấu trong những thời khắc quan trọng của dân tộc. Năm 1926, đông đảo tăng ni, phật tử, học sinh và thợ thuyền đã tụ hội tại đây làm lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, khơi dậy tinh thần dân sinh, dân chủ.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chùa là nơi ra mắt Hội Tăng già cứu quốc Hải Phòng, tổ chức “Tuần lễ vàng” và họp bàn đón Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người ghé thăm thành phố. Trong kháng chiến, cửa thiền từng rộng mở nuôi giấu cán bộ, ủng hộ lương thực, áo ấm cho binh sĩ; nhiều vị tu hành đã tòng quân cứu nước.
Chùa Hàng cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, có bề dày lịch sử - văn hoá
Năm 1986, chùa Dư Hàng được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, ghi nhận giá trị đặc biệt của ngôi cổ tự này.
Kiến trúc bề thế giữa lòng đô thị
So với nhiều ngôi chùa thờ Phật tại Hải Phòng, chùa Dư Hàng nổi bật bởi quy mô bề thế và khuôn viên hoàn chỉnh. Tòa Phật điện gồm 7 gian, kiến trúc hình chữ “Đinh”, mái cong vút, phía trước là gác chuông 3 tầng với năm gian rộng rãi. Trên cao treo quả đại hồng chung khắc bốn chữ “Phúc Lâm tự chung” - mỗi lần ngân lên như gọi dậy lớp lớp ký ức của thời gian.
Gác chuông ba tầng là một trong những công trình nổi bật bề thế của chùa
Bước vào chính điện, không gian mở ra trang nghiêm với hệ thống tượng Phật cổ có giá trị mỹ thuật cao: bộ Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca Tam Tôn, tòa Cửu Long - Thích Ca sơ sinh, Thập Điện Minh Vương… Những pho tượng được tạo hình chuẩn xác, thần thái tĩnh tại mà sống động.
Ban thờ Ngũ vị Tôn Ông (Ngũ vị Quan Lớn)
Ban thờ Tam Thế Phật trong chính điện
Tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn với hình tượng Quán Thế Âm với nghìn mắt nghìn tay biểu trưng cho lòng từ bi cứu khổ cứu nạn
Nội thất Phật điện gây ấn tượng bởi các bức hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son thếp vàng rực rỡ. Các mảng chạm khắc đề tài mai điểu, ngũ phúc, rồng mây, hoa lá, muông thú… mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn cuối thế kỷ XIX - đầu XX, đường nét mềm mại, kỹ thuật tinh xảo. Ở gian tiền đường, những bức chạm nổi mô tả cảnh thầy trò Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh vừa quen thuộc, vừa gợi mở chiều sâu giao thoa văn hóa.
Chùa còn lưu giữ nhiều di vật quý như chuông, khánh, đỉnh đồng, đồ gốm sứ, đá xanh và bộ kinh “A hàm” cổ truyền qua nhiều đời trụ trì.


Bức hoành phi (thư pháp chữ Hán) treo trong nội điện của Chùa Dư Hàng, phía dưới là bản kinh Phật khắc in được đóng khung kính
Phía sau Phật điện là khu vườn tháp tĩnh mịch, rợp bóng cây cổ thụ. Tại đây có các tháp mộ của chư vị sư tổ viên tịch tại chùa, tháp sư cụ Chân Huyền và mộ tháp chứa xá lỵ các vị tổ thiền phái Trúc Lâm. Không gian ấy như một khoảng lặng trầm mặc giữa phố thị, nơi người ta có thể chậm lại để lắng nghe chính mình.
Ánh hoàng hôn phủ lên mái ngói chùa
Đàn chim bồ câu được nhà chùa nuôi tại vườn
Với người Hải Phòng, đi chùa Hàng đầu năm không chỉ là một nghi thức tín ngưỡng, mà còn là cách tìm về cội nguồn. Giữa thành phố cảng năng động, nơi nhịp sống công nghiệp không ngừng chuyển động, chùa Dư Hàng như một khoảng neo giữ ký ức và tâm hồn. Mỗi mùa xuân, tiếng chuông “Phúc Lâm tự chung” lại ngân lên, nối hiện tại với quá khứ, nhắc nhớ về bề dày nghìn năm lịch sử.

VI
EN































