Triều đại Nhà Nguyễn trải qua 143 năm, với 13 đời vua nhưng bởi nhiều lý do lịch sử mà chỉ có 7 lăng tẩm được xây dựng và bảo tồn đến ngày hôm nay. Lăng Tự Đức chính là một trong số 7 lăng tẩm đó và là một trong những công trình đẹp nhât thế kỷ XIX tại Việt Nam.

Empty

Theo quan niệm triết học phương Đông thì “sinh ký tử quy - sống gửi thác về”, cuộc sống trần thế chỉ là sự tạm bợ, cái chết về với thế giới bên kia mới là cõi vĩnh hằng. Vậy nên vua Tự Đức sau khi lên ngôi đã sớm nghĩ tới việc xây dựng lăng tẩm cho riêng mình.  Điều đặc biệt là ở chỗ trong số 7 lăng tẩm triều Nguyễn còn lưu lại đến ngày nay thì chỉ có lăng của vua Tự Đức là đã hoàn thành trong thời gian vua trị vì, thậm chí còn trước khi ông qua đời 16 năm.

Empty

Với kiến trúc mang đậm nét tinh tế, bao bọc bởi một không gian xanh mượt của núi rừng cây cỏ, kiến trúc nơi đây đã thể hiện rất rõ chất thơ, chất mộng trong tâm hồn của ông vua thi sĩ - Tự Đức.

Vua Tự Đức tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm - sinh năm 1829, là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị. Ngay từ thuở nhỏ, với tư chất thông minh ham học hỏi và lễ phép, Hồng Nhậm được vua Thiệu Trị rất mực yêu thương tin tưởng. Năm 1848, Hồng Nhậm lên ngôi vua theo di chiếu của vua cha, lấy niên hiệu là Tự Đức - vị vua thứ 4 Triều Nguyễn và là vị vua trị vì lâu nhất với 36 năm (1848 - 1883).

Chân dung Vua Thiệu Trị (bên trái) và Vua Tự Đức (bên phải)

Chân dung Vua Thiệu Trị (bên trái) và Vua Tự Đức (bên phải)

Vua Tự Đức là một người thông minh, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực như: nghệ thuật, lịch sử, triết học… và nhất là Nho học. Vua Tự Đức còn là một nhà văn, một nhà thơ lớn khi có tới 600 bài văn, 4.000 bài thơ chữ Hán và hàng trăm bài thơ chữ Nôm. Nhưng Tự Đức lại không phải là một vị vua “thạo việc triều chính, biết tính toán khôn lường” bởi tính cách đơn thuần, hiền lành, đôi lúc có phần nhu nhược. Do vậy, cuộc đời làm vua của ông không mấy suôn sẻ và có màu sắc bi quan khi gặp phải thời thế chiến tranh xâm lược, nội bộ triều đình lại lục đục, anh em lại bất hòa, tranh đấu.

Đây là nguyên nhân chính dẫn đến hàng loạt những quyết định sai lầm trong việc điều hành đất nước. Từ đó, vua Tự Đức đau ốm liên miên và nghĩ đến việc xây dựng hành cung thứ hai của mình làm nơi tiêu sầu và đề phòng khi “ra đi bất chợt”.

Empty
Empty

Sau khi tìm được thế đất tốt, vua Tự Đức bắt đầu cho xây dựng hành cung thứ hai của riêng mình. Sách Đại Nam thực lục ghi chép rằng: Vào tháng 9 năm Tự Đức thứ 17 (1864), nhà vua “chuẩn định ngôi Vạn niên cát địa [sinh phần] ở địa phận núi, thuộc xã Dương Xuân thượng, huyện Hương Thủy. Sai quan có chức trách khởi công xây dựng, tóm đặt tên là Khiêm cung (khởi công vào mùa đông tháng 11)”.

Empty

Làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, cách trung tâm thành phố Huế chừng 5 km về phía tây. Hầu hết các lăng tẩm triều Nguyễn đều xây dựng ở phía tây bởi theo quan niệm thời xưa, vua được coi là thiên tử với hình ảnh biểu trưng là mặt trời nên lăng tẩm của vua ngự khi đã lâm chung đều được chọn xây dựng ở phía tây - phía mặt trời lặn.  

Bi Đình nhìn từ mặt bên

Bi Đình nhìn từ mặt bên

Lăng vua Tự Đức được khởi công năm 1864, tên gọi ban đầu là “Vạn Niên Cơ” với mơ ước rằng công trình này sẽ trường tồn mãi mãi với thời gian. Công trình dự định sẽ hoàn thành trong 6 năm với khoảng 3.000 lính và thợ, nhưng để rút ngắn thời gian xây dựng, các quan giám sát đã bắt dân binh lao động cực khổ trong điều kiện rừng thiêng nước độc liên tục dẫn đến việc nổ ra cuộc khởi nghĩa Chày Vôi năm 1866. Tuy cuộc khởi nghĩa bị thất bại chỉ sau 3 ngày, nhưng thanh danh vua Tự Đức đã bị tổn thất nặng nề.

Empty

Để xoa dịu sự phẫn uất trong dân, vua Tự Đức phải viết điếu trần tình. Đồng thời, vua đổi tên Vạn Niên Cơ (萬年基) thành Khiêm Cung (謙宮) với ý nghĩa chữ “Khiêm” ở đây là cung kính, nhún nhường. Năm 1873, Khiêm Cung chính thức được hoàn thành. Sau này, khi vua Tự Đức băng hà vào năm 1883, công trình này chính thức đổi tên thành Khiêm Lăng (謙陵), sau này thường được gọi là Tự Đức Khiêm Lăng.

Empty
Empty

Vua Tự Đức cho xây dựng Khiêm Lăng để làm chốn nghỉ ngơi, ngâm thơ, thưởng trà khi mệt mỏi. Có lẽ cũng bởi chính lý do này mà Lăng Tự Đức có quang cảnh rất lãng mạn, kiến trúc, cảnh vật và thiên nhiên vô cùng hài hòa.

Empty

Với tổng diện tích bao quanh lên tới 475 ha, Tự Đức Khiêm Lăng quanh năm có suối chảy, thông reo, cỏ cây xanh tốt. Quần thể lăng được chia thành hai phần chính: tẩm điện và lăng mộ. Lăng là nơi an táng thi hài vua, tẩm điện là hành cung nơi vua làm việc và giải trí. Hai khu vực này được bố trí song song nhau.

Trong khu trung tâm có diện tích 12 ha, lăng bao gồm 50 công trình lớn nhỏ được phân bố dàn trải trên những thế đất phức tạp. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng đó là sự hài hòa của đường nét bởi nơi đây không có những con đường thẳng tắp, góc cạnh như các kiến trúc khác. Thay vào đó, vua Tự Đức cho xây những con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm rồi uốn lượn quanh co chạy vòng quanh khu lăng tẩm và khuất dần vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh.

Dũ Khiêm Tạ

Dũ Khiêm Tạ

Về mặt phong thủy, lăng Tự Đức cũng hội tụ các yếu tố đại cát khi có núi Giáng Khiêm làm tiền án, lấy núi Dương Xuân làm hậu chuẩn, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường. Quang cảnh nên thơ của hồ nước yên ả bốn mùa, rừng thông xanh biếc, hòa cùng tiếng chim hót. Lạc bước ở đây, du khách chẳng bao giờ nghĩ đó là lăng tẩm của một vị vua quá cố mà cứ ngỡ như một vườn thượng uyển nên thơ êm đềm.

Empty

Dù không quá nổi bật nhưng những hoa văn tạc dựng trên mái nhà hoặc các công trình điêu khắc nhỏ tại Tự Đức Khiêm Cung cũng lưu giữ lại rất nhiều nét kiến trúc đặc trưng của triều Nguyễn, ví dụ như cấu trúc máng xối thoát nước từ mái hiên hình con cá đang há miệng. Các nghệ nhân đã đặt hai con cá trong bố cục đối xứng nhau qua góc mái chầu, được đắp nổi bằng chất liệu nề vữa, khảm sành sứ bên ngoài. Cá mang những đặc điểm của đầu rồng cách điệu như hai mắt xoắn ốc lồi lên, miệng há to, mũi tròn nhẵn ngụ ý sẽ mang lại may mắn, thịnh vượng và báo hiệu điềm lành. Bên cạnh đó, hình tượng chữ “thọ” có bố cục hình tròn đặt trên tường như những ô cửa sổ, tạo nên hàm nghĩa “phúc thọ” cũng được xuất hiện ở khắp nơi trong kiến trúc của lăng Tự Đức.

Empty

Có một điều đặc biệt là gần 50 công trình trong Tự Đức Khiêm Lăng đều có chữ Khiêm trong tên gọi như: Cửa Vụ Khiêm, Khiêm Cung Môn, Chí Khiêm Đường, hồ Lưu Khiêm, Xung Khiêm Tạ, Dũ Khiêm Tạ, điện Hòa Khiêm, Lương Khiêm... Đây chính là cách dùng từ đậm chất thi ca mà Vua Tự Đức đã đặt để cho công trình của mình.

Empty

Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và Chí Khiêm Đường - nơi thờ tự phi tần của Vua Tự Đức là tới ba dãy tam cấp bằng đá nhà Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn, hay còn gọi là cổng Tam Quan. Công trình hai tầng này được xây dạng vọng lâu, có thế đối đầu với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước.

Tầng trên của Khiêm Cung Môn là nơi vua thường vọng cảnh đất trời và ngâm thơ mỗi lúc có thời gian nhàn rỗi. Hai bên tả hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho bá quan văn võ theo hầu. Chính giữa là điện Hòa Khiêm - nơi vua Tự Đức làm việc, nay được sử dụng làm chỗ thờ bài vị của vua và hoàng hậu. Nằm sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua và về sau trở thành chốn thờ tự Thái Hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức.

Bên trong Xung Khiêm Tạ

Bên trong Xung Khiêm Tạ

Đặc biệt nhất trong Lăng vua Tực Đức có lẽ phải kể đến Minh Khiêm Đường - một công trình có giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc. Không chỉ là nhà hát cổ nhất Việt Nam, Minh Khiêm Đường còn là nhà hát duy nhất được xây trong lăng tẩm và đây cũng là điều khiến Tự Đức Khiêm Lăng trở nên khác biệt so với các lăng vua nhà Nguyễn khác.

Hầu hết những vách tường hay cột trống tại Khiêm Minh Đường đều được chạm khắc cầu kỳ với hoa văn nổi bật. Khi nhà hát được đóng kín, bên trong sẽ thắp nến, ánh nến từ bên dưới hắt lên sẽ tạo nên khung cảnh lung linh huyền ảo.

Chỗ ngồi của Tự Đức tại Khiêm Minh Đường

Chỗ ngồi của Tự Đức tại Khiêm Minh Đường

Hiện nay, đây là nơi được dùng để biểu diễn nhã nhạc, hát múa cung đình, các trích đoạn tuồng cổ do Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế (thuộc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế) tổ chức.

Hồ Lưu Khiêm vốn là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng và được vua Tự Đức cho đào rộng thành hồ. Hồ vừa mang ý nghĩa phong thủy thiêng liêng, vừa là nơi thả hoa sen tạo cảnh cho Tự Đức Khiêm Lăng. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm rợp bóng cây xanh, trên đảo vua cho trồng hoa và tạo những hang nhỏ để nuôi các loại thú hiếm.

Empty

Bên bờ hồ Lưu Khiêm còn có Xung Khiêm Tạ - nơi nhà vua nghỉ ngơi, hóng mát, làm thơ, thưởng thức nghệ thuật và Dũ Khiêm Tạ - bến thuyền dành cho nhà vua khi ngao du thưởng cảnh ở hồ Lưu Khiêm. Đây là hai công trình trình kiến trúc hiếm hoi có hình thức “nhà tạ”, được dựng trên mặt nước bằng chất liệu gỗ gần gũi với thiên nhiên. Ba cây cầu bắc qua hồ có tên là Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm, dẫn đến đồi thông xanh bạt ngàn, gió vi vu.

Empty

Nếu đến nơi đây vào một ngày mưa, đứng giữa Dũ Khiêm Tạ và nhìn làn nước trong xanh ở hồ Lưu Khiêm, ta sẽ cảm thấy như thời gian đang ngừng lại. Trong không gian thâm nghiêm, bề thế của Lăng Tự Đức, từng giọt mưa cứ rơi lanh lảnh cả mặt hồ, xao động cả những bông súng còn đang chớm nụ. Dù chỉ một khoảng khắc ấy thôi, cũng như được nghe tiếng thì thầm của ngàn xưa vọng lại…

Hàng tượng quan văn dựng ở Bái Đình

Hàng tượng quan văn dựng ở Bái Đình

Bước vào Bái Đình (tức sân chầu), khung cảnh trở nên uy nghiêm bởi hai hàng tượng quan viên văn võ đứng oai vệ, hùng dũng. Cuối sân chính là Bi Đình (tức nhà bia) với tấm bia bằng đá nặng 20 tấn khắc bài “Khiêm Cung Ký”. Hai bên tấm bia là bốn trụ biểu sừng sững tạc hình hoa sen ở trên cùng, tạo sự tương xứng toàn diện trong tổng thể kì vĩ của Khiêm Lăng.

Châu bản do vua Tự Đức phê chuẩn về kích thước của Bia Khiêm cung

Châu bản do vua Tự Đức phê chuẩn về kích thước của Bia Khiêm cung

Khiêm Cung Ký là tấm bia có số lượng văn tự nhiều nhất ở Việt Nam khắc trên cả hai mặt bia, cũng là tấm bia có kích thước đồ sộ, trọng lượng lớn nhất trong các bia cùng loại ở lăng hoàng đế thời Nguyễn. Các Châu bản triều Nguyễn đã lưu lại rằng Bộ Công đã phúc trình vào ngày 12 tháng 6 năm Tự Đức 27 (1874), về kích thước và số lượng chữ khắc như sau: “Bia Khiêm cung trong lòng dài 6 thước 3 tấc, rộng 3 thước 6 tấc. Mặt trước chia làm 46 hàng, trước và sau để trống 2 hàng ngự chế. Bài kí trên bia Khiêm cung tổng cộng có 5.109 chữ”.

Bi Đình, nơi dựng Bia Khiêm cung

Bi Đình, nơi dựng Bia Khiêm cung

Độc đáo ở chỗ, đây còn là tấm bia duy nhất được một hoàng đế tự viết ra cho mình thay vì là hoàng đế kế nghiệp sáng tác. Khiêm cung kí do chính Vua Tự Đức soạn để bày tỏ cùng thiên hạ về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, cho đời sau hậu xét công - tội. Trong phần cuối bài ký, nhà vua tự viết: “Biết người không tinh, là tội ở trẫm, dùng người không xứng, cũng là tội ở trẫm, phàm mọi việc làm không nên, đều là tội trẫm”. Chính bởi những giá trị lịch sử quan trọng ấy mà vào năm 2015, Bia Khiêm Cung Ký đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia Việt Nam.

Phía sau Bi Đình là Bửu Thành - nơi chôn cất thi hài vua Tự Đức, tọa lạc ngay sau hồ Tiểu Khiêm. Mộ vua Tự Đức được xây bằng đá, có hình dáng như một ngôi nhà (thạch thất) nằm chính giữa khoảng sân trống tạo cảm giác uy nghiêm.

Empty

Nhân ngày Di sản Thế giới 18/04/2019, Google Arts and Culture đã mở rộng dự án Di sản Mở bằng việc bổ sung thêm vào nền tảng này một bộ sưu tập những câu chuyện về những di tích đang có nguy cơ biến mất trên toàn thế giới. Cùng với CyArk - Tổ chức Lịch sử Môi trường Scotland & Đại học Nam Florida, Google Arts and Culture đã cho ra mắt bản số hóa của 30 di tích mới từ 13 quốc gia, bao gồm: Đài tưởng niệm Tổng thống Thomas Jefferson Mỹ, Nhà thờ Chính tòa Mexico City, Đền thờ thần Apollo Hy Lạp… và Lăng Tự Đức Việt Nam.

Phiên bản số hóa 3D Lăng Tự Đức này đã trở thành di sản Việt Nam đầu tiên có mặt trong dự án Di sản Mở (Open Heritage) do Google phối hợp cùng CyArk thực hiện.

Empty
Empty
Empty